Ý nghĩa tên gọi Lư Trung Hỏa
Mệnh Lư Trung Hỏa là nạp âm của hai năm can chi Bính Dần và Đinh Mão, thuộc hành Hỏa. Chữ “lư” chỉ cái lò, nên tên gọi được hiểu là lửa trong lò. Ngọn lửa này được nhốt trong một khối gạch hoặc đất nung, có cửa để thêm than và lỗ để lấy gió.
Thợ gốm dùng lửa lò để biến đất sét thành bình, thành chum. Thợ đúc dùng nó để nấu quặng thành đồng, thành sắt. Lửa ngoài trời khó đạt độ nóng ấy vì hơi nóng tản đi mất. Thành lò thì giữ nhiệt lại và dồn vào vật được nung.
Từ đó, người xưa gắn Lư Trung Hỏa với ý chuyển hóa: thứ thô đi vào lò, thứ dùng được đi ra. Ngọn lửa ở đây không để ngắm. Giá trị của nó nằm ở món đồ mà nó làm ra.
Hai can Bính, Đinh thuộc Hỏa, còn hai chi Dần, Mão thuộc Mộc. Mộc sinh Hỏa, giống như đống củi chất sẵn bên miệng lò. Có cách hiểu dựa vào chính sự sắp đặt này để coi lửa trong lò là ngọn lửa có nguồn nuôi ổn định.
Đặc điểm, tính cách người mệnh Lư Trung Hỏa thường được nhắc tới
Theo quan niệm dân gian, người mệnh Lư Trung Hỏa làm việc theo kiểu thợ coi lò. Họ chịu được những giai đoạn dài chưa thấy kết quả, miễn biết thứ mình đang nung rồi sẽ thành hình.
Một mẻ gốm phải canh lửa nhiều giờ liền, mở lò sớm thì sản phẩm nứt. Từ hình ảnh đó, người mệnh này thường được cho là bền bỉ với việc dài hơi và khó chịu khi bị hối thúc. Họ thích làm trọn một việc hơn là ôm nhiều việc dở dang.
Than trong lò còn đỏ rất lâu sau khi ngọn lửa đã tắt. Nét này hay được mượn để tả tình cảm của họ: ít bộc lộ nhưng bền. Một người bạn cũ nhiều năm không gặp vẫn được họ đón như mới chia tay hôm qua.
Mặt trái nằm ở chính cái vỏ lò. Họ dễ giữ bực bội trong lòng thay vì nói ra, tích lâu thì phụt lên như lửa trào khỏi cửa lò. Nói sớm một chuyện nhỏ thường đỡ hơn để dồn thành chuyện lớn.
Lò cũng cần được nạp than đúng lúc. Khi thiếu một mục tiêu cụ thể, người mệnh Lư Trung Hỏa hay được mô tả là nguội đi nhanh và mất hứng. Với họ, một kế hoạch có mốc rõ ràng như “xong khóa học trong ba tháng” giữ lửa tốt hơn lời động viên chung chung.
Lư Trung Hỏa khác gì các nạp âm khác cùng hành Hỏa
Sáu nạp âm Hỏa đều là lửa, nhưng mỗi ngọn lửa đứng ở một chỗ và làm một việc riêng. Đứng từ cái lò mà nhìn sang, khác biệt hiện ra ở ba câu hỏi. Lửa có vách che hay không, lửa sống nhờ cái gì, và lửa dùng để làm gì.
Phú Đăng Hỏa, lửa ngọn đèn, cũng là lửa do người giữ trong nhà. Có điều đèn dùng để soi, còn lò dùng để nung. Ngọn đèn chỉ cần chút dầu cho cả đêm, còn lò ngốn cả gánh than cho một mẻ.
Sơn Đầu Hỏa và Sơn Hạ Hỏa là lửa lộ thiên, cháy trên đỉnh hoặc dưới chân núi. Chúng phải trông vào gió và trời. Lửa trong lò có vách gạch che, mưa ngoài sân không chạm được tới nó.
Tích Lịch Hỏa là lửa sấm sét, lóe lên trong một khoảnh khắc rồi biến mất. Lư Trung Hỏa nằm ở đầu bên kia của thang thời gian, chậm nóng nhưng đã nóng thì giữ rất lâu.
Thiên Thượng Hỏa là lửa trên trời, tự cháy mà không cần ai thêm củi. Lửa trong lò thì không thể vắng người coi lò. Trong sáu hình ảnh, đây là ngọn lửa gần đôi tay người thợ hơn cả. Nó được nhớ đến qua cái chum, lưỡi cuốc hay viên gạch mà nó nung ra.
