Bảng 60 hoa giáp liệt kê 60 cặp can chi theo thứ tự, từ Giáp Tý đến Quý Hợi, kèm nạp âm của từng cặp. Hai cặp liền nhau dùng chung một nạp âm, nên cả vòng có 30 nạp âm, mỗi hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ chiếm sáu.
Bảng này vừa là bảng can chi, vừa là bảng nạp âm. Từ đó tra ra tuổi con gì, mệnh gì của bất kỳ năm sinh nào. Muốn dùng đúng, bạn cần đổi ngày sinh ra năm âm lịch trước.
Lục thập hoa giáp là gì?
Lục thập hoa giáp nghĩa là “sáu mươi giáp”. Người xưa ghép 10 thiên can với 12 địa chi thành tên gọi cho từng năm. Can và chi cùng tiến một bước mỗi năm, nên phải sau 60 năm mới về lại đúng cặp ban đầu.
Cặp mở đầu là Giáp Tý, can đầu tiên ghép với chi đầu tiên. Chữ “giáp” trong tên gọi lấy từ đó. Năm 1984 là một năm Giáp Tý, và vòng 60 năm gần nhất kéo dài đến Quý Hợi 2043.
Mỗi cặp can chi lại có một nạp âm, là cái tên ba chữ như Hải Trung Kim hay Lư Trung Hỏa. Chữ cuối của nạp âm là mệnh ngũ hành. Các trang năm sinh trên Tra Mệnh dùng mệnh này để xét màu, số và tương sinh tương khắc.
Bảng nạp âm 60 hoa giáp đầy đủ
Cột STT là vị trí của cặp can chi trong vòng 60 năm. Cột năm sinh ghi những năm nằm trong khoảng 1940–2025, khoảng mà Tra Mệnh có trang riêng cho từng năm.
| STT | Can chi | Con giáp | Nạp âm | Nghĩa | Năm sinh |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Giáp Tý | chuột | Hải Trung Kim | vàng trong biển | 1984 |
| 2 | Ất Sửu | trâu | Hải Trung Kim | vàng trong biển | 1985 |
| 3 | Bính Dần | hổ | Lư Trung Hỏa | lửa trong lò | 1986 |
| 4 | Đinh Mão | mèo | Lư Trung Hỏa | lửa trong lò | 1987 |
| 5 | Mậu Thìn | rồng | Đại Lâm Mộc | gỗ rừng lớn | 1988 |
| 6 | Kỷ Tỵ | rắn | Đại Lâm Mộc | gỗ rừng lớn | 1989 |
| 7 | Canh Ngọ | ngựa | Lộ Bàng Thổ | đất ven đường | 1990 |
| 8 | Tân Mùi | dê | Lộ Bàng Thổ | đất ven đường | 1991 |
| 9 | Nhâm Thân | khỉ | Kiếm Phong Kim | vàng mũi kiếm | 1992 |
| 10 | Quý Dậu | gà | Kiếm Phong Kim | vàng mũi kiếm | 1993 |
| 11 | Giáp Tuất | chó | Sơn Đầu Hỏa | lửa trên núi | 1994 |
| 12 | Ất Hợi | heo | Sơn Đầu Hỏa | lửa trên núi | 1995 |
| 13 | Bính Tý | chuột | Giản Hạ Thủy | nước khe suối | 1996 |
| 14 | Đinh Sửu | trâu | Giản Hạ Thủy | nước khe suối | 1997 |
| 15 | Mậu Dần | hổ | Thành Đầu Thổ | đất trên thành | 1998 |
| 16 | Kỷ Mão | mèo | Thành Đầu Thổ | đất trên thành | 1999 |
| 17 | Canh Thìn | rồng | Bạch Lạp Kim | vàng chân đèn | 1940, 2000 |
| 18 | Tân Tỵ | rắn | Bạch Lạp Kim | vàng chân đèn | 1941, 2001 |
| 19 | Nhâm Ngọ | ngựa | Dương Liễu Mộc | gỗ cây dương liễu | 1942, 2002 |
| 20 | Quý Mùi | dê | Dương Liễu Mộc | gỗ cây dương liễu | 1943, 2003 |
| 21 | Giáp Thân | khỉ | Tuyền Trung Thủy | nước trong giếng | 1944, 2004 |
| 22 | Ất Dậu | gà | Tuyền Trung Thủy | nước trong giếng | 1945, 2005 |
| 23 | Bính Tuất | chó | Ốc Thượng Thổ | đất trên mái nhà | 1946, 2006 |
| 24 | Đinh Hợi | heo | Ốc Thượng Thổ | đất trên mái nhà | 1947, 2007 |
| 25 | Mậu Tý | chuột | Tích Lịch Hỏa | lửa sấm sét | 1948, 2008 |
| 26 | Kỷ Sửu | trâu | Tích Lịch Hỏa | lửa sấm sét | 1949, 2009 |
| 27 | Canh Dần | hổ | Tùng Bách Mộc | gỗ cây tùng bách | 1950, 2010 |
| 28 | Tân Mão | mèo | Tùng Bách Mộc | gỗ cây tùng bách | 1951, 2011 |
| 29 | Nhâm Thìn | rồng | Trường Lưu Thủy | nước chảy dài | 1952, 2012 |
| 30 | Quý Tỵ | rắn | Trường Lưu Thủy | nước chảy dài | 1953, 2013 |
| 31 | Giáp Ngọ | ngựa | Sa Trung Kim | vàng trong cát | 1954, 2014 |
| 32 | Ất Mùi | dê | Sa Trung Kim | vàng trong cát | 1955, 2015 |
| 33 | Bính Thân | khỉ | Sơn Hạ Hỏa | lửa dưới chân núi | 1956, 2016 |
| 34 | Đinh Dậu | gà | Sơn Hạ Hỏa | lửa dưới chân núi | 1957, 2017 |
| 35 | Mậu Tuất | chó | Bình Địa Mộc | gỗ đồng bằng | 1958, 2018 |
| 36 | Kỷ Hợi | heo | Bình Địa Mộc | gỗ đồng bằng | 1959, 2019 |
| 37 | Canh Tý | chuột | Bích Thượng Thổ | đất trên vách | 1960, 2020 |
| 38 | Tân Sửu | trâu | Bích Thượng Thổ | đất trên vách | 1961, 2021 |
| 39 | Nhâm Dần | hổ | Kim Bạch Kim | vàng pha bạc | 1962, 2022 |
| 40 | Quý Mão | mèo | Kim Bạch Kim | vàng pha bạc | 1963, 2023 |
| 41 | Giáp Thìn | rồng | Phú Đăng Hỏa | lửa ngọn đèn | 1964, 2024 |
| 42 | Ất Tỵ | rắn | Phú Đăng Hỏa | lửa ngọn đèn | 1965, 2025 |
| 43 | Bính Ngọ | ngựa | Thiên Hà Thủy | nước trên trời | 1966 |
| 44 | Đinh Mùi | dê | Thiên Hà Thủy | nước trên trời | 1967 |
| 45 | Mậu Thân | khỉ | Đại Trạch Thổ | đất đầm lầy lớn | 1968 |
| 46 | Kỷ Dậu | gà | Đại Trạch Thổ | đất đầm lầy lớn | 1969 |
| 47 | Canh Tuất | chó | Thoa Xuyến Kim | vàng trang sức | 1970 |
| 48 | Tân Hợi | heo | Thoa Xuyến Kim | vàng trang sức | 1971 |
| 49 | Nhâm Tý | chuột | Tang Đố Mộc | gỗ cây dâu | 1972 |
| 50 | Quý Sửu | trâu | Tang Đố Mộc | gỗ cây dâu | 1973 |
| 51 | Giáp Dần | hổ | Đại Khê Thủy | nước khe lớn | 1974 |
| 52 | Ất Mão | mèo | Đại Khê Thủy | nước khe lớn | 1975 |
| 53 | Bính Thìn | rồng | Sa Trung Thổ | đất pha cát | 1976 |
| 54 | Đinh Tỵ | rắn | Sa Trung Thổ | đất pha cát | 1977 |
| 55 | Mậu Ngọ | ngựa | Thiên Thượng Hỏa | lửa trên trời | 1978 |
| 56 | Kỷ Mùi | dê | Thiên Thượng Hỏa | lửa trên trời | 1979 |
| 57 | Canh Thân | khỉ | Thạch Lựu Mộc | gỗ cây thạch lựu | 1980 |
| 58 | Tân Dậu | gà | Thạch Lựu Mộc | gỗ cây thạch lựu | 1981 |
| 59 | Nhâm Tuất | chó | Đại Hải Thủy | nước biển lớn | 1982 |
| 60 | Quý Hợi | heo | Đại Hải Thủy | nước biển lớn | 1983 |
Mười sáu cặp đầu bảng chỉ có một năm trong khoảng này, vì lần xuất hiện trước của chúng rơi vào những năm 1920–1930. Mười tám cặp cuối bảng cũng chỉ có một năm, vì lần kế tiếp phải từ 2026 trở đi.
Cách dò bảng cho năm sinh của bạn
Bước đầu luôn là chốt năm âm lịch. Người sinh từ 1/1 đến trước Tết thì lấy năm trước đó. Ví dụ người sinh ngày 20/01/2004 vẫn thuộc năm 2003, vì Tết 2004 rơi vào 22/01/2004. Bạn tra dòng Quý Mùi, Dương Liễu Mộc.
Với năm nằm ngoài cột năm sinh, có thể tự tìm số thứ tự. Lấy năm âm lịch trừ 4, chia cho 60, rồi cộng 1 vào số dư.
- Năm 2026: 2026 − 4 = 2022. Chia 60 dư 42, cộng 1 thành 43. Dòng 43 là Bính Ngọ, Thiên Hà Thủy (nước trên trời).
- Năm 1995: 1995 − 4 = 1991. Chia 60 dư 11, cộng 1 thành 12. Dòng 12 là Ất Hợi, Sơn Đầu Hỏa.
- Năm 1930: 1930 − 4 = 1926. Chia 60 dư 6, cộng 1 thành 7. Dòng 7 là Canh Ngọ, Lộ Bàng Thổ.
Năm 1930 và năm 1990 cùng rơi vào dòng 7, vì cách nhau đúng 60 năm. Ông bà sinh năm Canh Ngọ 1930 và cháu sinh năm Canh Ngọ 1990 có chung tuổi, chung nạp âm.
30 nạp âm xếp theo năm hành
Gom các nạp âm cùng chữ cuối lại, mỗi hành có đúng sáu dạng khác nhau:
- Kim: Hải Trung Kim, Kiếm Phong Kim, Bạch Lạp Kim, Sa Trung Kim, Kim Bạch Kim, Thoa Xuyến Kim.
- Mộc: Đại Lâm Mộc, Dương Liễu Mộc, Tùng Bách Mộc, Bình Địa Mộc, Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc.
- Thủy: Giản Hạ Thủy, Tuyền Trung Thủy, Trường Lưu Thủy, Thiên Hà Thủy, Đại Khê Thủy, Đại Hải Thủy.
- Hỏa: Lư Trung Hỏa, Sơn Đầu Hỏa, Tích Lịch Hỏa, Sơn Hạ Hỏa, Phú Đăng Hỏa, Thiên Thượng Hỏa.
- Thổ: Lộ Bàng Thổ, Thành Đầu Thổ, Ốc Thượng Thổ, Bích Thượng Thổ, Đại Trạch Thổ, Sa Trung Thổ.
Hành Kim đi từ vàng nằm sâu dưới biển, qua mũi kiếm đã rèn, đến món trang sức đeo trên tay. Người xưa dùng các hình ảnh đó để phân biệt “chất” của từng người cùng hành. Vàng trong cát hay được ví với người cần thời gian mới lộ ra giá trị. Vàng trang sức thì gắn với vẻ ngoài chỉn chu.
Khi xem màu, số hay xét tương sinh giữa hai người, Tra Mệnh chỉ dùng chữ cuối. Người Sa Trung Kim và người Thoa Xuyến Kim vì vậy có chung bảng màu và con số.
Vì sao hai năm liền nhau chung một nạp âm?
Trong mười thiên can, can thứ nhất, thứ ba, thứ năm… là can dương, can xen giữa là can âm. Mỗi nạp âm gồm một năm can dương và năm can âm đứng ngay sau nó. Nhâm Thân 1992 (can dương) đi cặp với Quý Dậu 1993 (can âm), cùng là Kiếm Phong Kim.
Năm can dương luôn là năm chẵn, như 1992, 2000, 2014. Vì thế mỗi cặp nạp âm mở đầu bằng năm chẵn và khép lại bằng năm lẻ liền sau.
Hành của nạp âm không trùng với hành của can hay của chi. Nhâm thuộc Thủy, Thân thuộc Kim, còn nạp âm của Nhâm Thân là Kim. Mậu Ngọ 1978 có can Mậu thuộc Thổ, chi Ngọ thuộc Hỏa, nhưng nạp âm là Thiên Thượng Hỏa.
Trong bảng còn một quy luật lặp. Thứ tự hành của 15 nạp âm nửa sau (từ Giáp Ngọ, dòng 31) giống hệt 15 nạp âm nửa đầu. Hải Trung Kim mở nửa đầu thì Sa Trung Kim mở nửa sau, Lư Trung Hỏa ứng với Sơn Hạ Hỏa.
Những tên nạp âm dễ nhầm
Nhiều nạp âm có tên na ná nhau nhưng khác hành. Khi chép tay hay nghe đọc, đây là chỗ dễ sai nhất.
- Sa Trung Kim và Sa Trung Thổ. Cùng chữ “sa trung” (trong cát), nhưng khác hành. Một bên là vàng trong cát của Giáp Ngọ, Ất Mùi; bên kia là đất pha cát của Bính Thìn, Đinh Tỵ.
- Sơn Đầu Hỏa và Sơn Hạ Hỏa. Cùng hành Hỏa, khác vị trí: lửa trên đỉnh núi của 1994, 1995 và lửa dưới chân núi của 2016, 2017.
- Thiên Hà Thủy và Thiên Thượng Hỏa. Một bên là nước trên trời (1966, 1967), bên kia là lửa trên trời (1978, 1979). Hai hành này thuộc cặp tương khắc Thủy khắc Hỏa.
- Bốn nạp âm mở bằng chữ “Đại”. Đại Lâm Mộc, Đại Khê Thủy, Đại Hải Thủy và Đại Trạch Thổ thuộc ba hành khác nhau. Chữ quyết định vẫn là chữ cuối.
- Ốc Thượng Thổ và Bích Thượng Thổ. Đất trên mái nhà (Bính Tuất, Đinh Hợi) và đất trên vách (Canh Tý, Tân Sửu), cùng hành Thổ.
Vòng 60 năm lặp lại những gì?
Cứ sau 60 năm, can chi, con giáp và nạp âm quay về như cũ. Người sinh năm Canh Thìn 1940 và người sinh năm Canh Thìn 2000 đều mang mệnh Bạch Lạp Kim, vàng chân đèn. Theo quan niệm dân gian, hai người này cùng “một tuổi” dù cách nhau hai thế hệ.
Những thứ không lặp lại cũng cần biết. Cung mệnh xoay vòng 9 năm, không khớp với vòng 60. Nam 1940 thuộc cung Càn, nam 2000 lại thuộc cung Ly. Hướng nhà hợp tuổi của hai người vì vậy khác nhau.
Ngày Tết cũng đổi. Tết năm 1940 rơi vào 08/02/1940, còn Tết năm 2000 rơi vào 05/02/2000. Ai sinh vào khoảng đầu tháng 2 của hai năm đó phải xét riêng từng năm.
Các ông bà, cha mẹ hay dùng bảng 60 hoa giáp khi đặt câu hỏi “cháu có trùng tuổi ông không”. Câu trả lời nằm ở cột năm sinh. Hai năm cùng dòng là cùng tuổi, cùng nạp âm, và thường được cho là có nhiều nét tính cách giống nhau.
