Mệnh Thổ sinh năm nào
Mệnh Thổ sinh năm nào? Trong khoảng 1940–2025, người mệnh Thổ sinh vào 16 năm âm lịch, chia đều cho sáu nạp âm. Gần đây nhất là các năm 1990, 1991, 1998, 1999, 2006, 2007, 2020 và 2021.
Lớp lớn tuổi hơn gồm những người sinh năm 1946, 1947, 1960, 1961, 1968, 1969, 1976 và 1977. Bảng phía trên đã ghi đủ can chi và nạp âm của từng năm, nên phần này chỉ nói cách đọc cho đúng.
Năm trong bảng là năm âm lịch, bắt đầu từ Tết Nguyên đán. Người sinh tháng 1 dương lịch, trước Tết, thuộc năm âm lịch liền trước. Ví dụ, người sinh đầu tháng 1/1990 vẫn tính theo năm Kỷ Tỵ 1989, chưa sang Canh Ngọ. Muốn chắc chắn, hãy nhập đủ ngày tháng năm sinh vào công cụ tra mệnh theo ngày sinh của site.
Các năm Thổ đi theo cặp liền nhau, vì mỗi nạp âm ứng với hai năm can chi kề nhau. Ba nạp âm Ốc Thượng Thổ, Bích Thượng Thổ và Thành Đầu Thổ lặp lại sau 60 năm. Vì thế trong khung năm của site, Ốc Thượng Thổ và Bích Thượng Thổ có cả lứa ông bà lẫn lứa trẻ nhỏ.
Đặc tính của hành Thổ
Thổ là đất, hành đứng giữa trong ngũ hành. Người xưa đặt Thổ ở trung tâm, bốn hành còn lại bao quanh bốn phía. Hình ảnh này giải thích vì sao Thổ hay gắn với sự trung hòa, làm nền cho mọi thứ khác.
Đất nhận hạt giống, giữ nước cho rễ, làm móng cho nhà và làm đường cho người đi. Vì vậy hành Thổ thường được cho là tượng trưng cho sự nâng đỡ, chứa đựng và bền lâu. Người mệnh Thổ hay được mô tả là kiên nhẫn, giữ lời và chuộng sự ổn định.
Mặt trái của đất là chậm đổi. Một thửa ruộng muốn đổi giống cây phải cày bừa lại cả mùa. Dân gian mượn chi tiết đó để nói người mệnh Thổ đôi khi bảo thủ. Họ khó bỏ thói quen cũ, dù đã thấy nó không còn hợp.
Màu của Thổ là màu đất: vàng, nâu đất, be. Về con số, theo Lạc thư, các số 2, 5, 8 thuộc Thổ. Số 9 thuộc Hỏa, hành sinh ra Thổ, nên cũng được xếp vào nhóm số hợp.
Mệnh Thổ hợp mệnh gì, khắc mệnh gì
Quan hệ của Thổ với bốn hành còn lại đi theo hai vòng tương sinh và tương khắc. Mỗi quan hệ có một hình ảnh đời thường đi kèm, giúp nhớ lâu hơn.
- Hỏa sinh Thổ: lửa đốt cây cỏ thành tro, tro lại hòa vào đất. Mệnh Hỏa vì thế được xem là hành nuôi dưỡng mệnh Thổ.
- Thổ sinh Kim: quặng kim loại nằm sâu trong lòng đất. Mệnh Thổ ở vị trí người cho đi trong quan hệ với mệnh Kim.
- Mộc khắc Thổ: rễ cây đâm xuyên và hút chất của đất. Đây là quan hệ bất lợi nhất với mệnh Thổ.
- Thổ khắc Thủy: đất đắp đê ngăn nước, bờ ruộng giữ nước lại. Ở quan hệ này, Thổ là bên chế ngự.
Khi xét vợ chồng hay người làm ăn chung, Hỏa và Kim thường được xem là hai mệnh hợp với Thổ. Hai người cùng mệnh Thổ được xem là bình hòa, cùng một tính đất nên dễ hiểu nhau. Gặp người mệnh Mộc, theo quan niệm dân gian nên xét thêm con giáp và cung mệnh. Trang xem tuổi vợ chồng chấm điểm đủ bốn yếu tố đó cho từng cặp năm sinh.
Mệnh Thổ hợp màu gì, kỵ màu gì
Màu hợp nhất với mệnh Thổ là màu của Hỏa: đỏ, hồng, tím, cam. Màu bản mệnh là vàng, nâu đất, be. Màu nên hạn chế là xanh lá, màu của Mộc, hành khắc Thổ.
Áp vào đồ dùng, một người mệnh Thổ có thể chọn rèm cửa màu be, gối tựa màu cam đất, bìa sổ màu nâu. Xanh lá chỉ nên dừng ở mảng nhỏ, như một chậu cây hay viền khăn, thay vì sơn kín cả bức tường. Cách dùng màu chi tiết theo từng năm có trong trang của năm sinh đó.
6 nạp âm mệnh Thổ khác nhau thế nào
Sáu nạp âm đều là đất, nhưng mỗi loại đất ở một chỗ khác nhau. Có loại do người đắp, có loại do lửa nung, có loại tự nhiên do nước và gió bồi lên.
- Lộ Bàng Thổ (Canh Ngọ 1990, Tân Mùi 1991) là đất ven đường. Đất này bị bước chân và bánh xe nén chặt, mở cho mọi người cùng dùng.
- Thành Đầu Thổ (Mậu Dần 1998, Kỷ Mão 1999) là đất trên thành. Lũy đất đắp cao để canh giữ, gắn với tầm nhìn xa và ranh giới rõ ràng.
- Ốc Thượng Thổ (Bính Tuất 1946 và 2006, Đinh Hợi 1947 và 2007) là đất trên mái nhà, tức ngói nung. Đây là loại đất duy nhất đã qua lửa.
- Bích Thượng Thổ (Canh Tý 1960 và 2020, Tân Sửu 1961 và 2021) là đất trên vách. Đất sét trộn rơm trát lên phên tre, che chắn cho bên trong căn nhà.
- Đại Trạch Thổ (Mậu Thân 1968, Kỷ Dậu 1969) là đất đầm lầy lớn. Đất trũng và mềm, ngậm nước quanh năm, nuôi lúa, sen và cá.
- Sa Trung Thổ (Bính Thìn 1976, Đinh Tỵ 1977) là đất pha cát. Đất tơi, thoát nước nhanh, hợp với lạc, khoai và dưa trên bãi bồi.
Xếp theo độ cứng, ngói Ốc Thượng Thổ đứng đầu, rồi đến lũy thành và mặt đường nện chặt. Đất vách đứng giữa, còn đất cát và đất đầm mềm nhất. Xếp theo độ gần nước thì thứ tự gần như đảo lại. Đại Trạch Thổ chìm trong nước, Sa Trung Thổ nằm ven sông, còn ngói được làm ra để nước trôi đi.
Ba nạp âm thành, mái, vách gắn với công trình do người dựng nên. Ba nạp âm đường, đầm, bãi cát là đất ngoài trời. Người sinh năm 1960 và người sinh năm 1976 cùng mệnh Thổ. Một bên là vách nhà, một bên là bãi cát, nên tính cách dân gian gán cho họ khác nhau khá xa.
