Ý nghĩa tên gọi Dương Liễu Mộc
Mệnh Dương Liễu Mộc là nạp âm “gỗ cây dương liễu” của hành Mộc, ứng với hai năm Nhâm Ngọ và Quý Mùi. Chu kỳ 60 năm khiến nạp âm này rơi vào hai thế hệ cách xa nhau. Đó là ông bà sinh 1942, 1943 và lớp cháu sinh 2002, 2003.
Liễu là loài cây ra lộc rất sớm. Khi nhiều cây khác còn trơ cành cuối đông, những mầm xanh nhạt đã nhú dọc cành liễu. Vì thế liễu hay được chọn làm dấu hiệu báo xuân trong thơ ca phương Đông.
Hai can Nhâm và Quý đều thuộc hành Thủy. Đặt cạnh tên gọi, chi tiết này khớp với chỗ đứng quen thuộc của liễu là bờ ao, bờ hồ, mép nước. Thủy lại là hành sinh ra Mộc, nên cây liễu ở đây giống như được nuôi bằng chính dòng nước dưới chân.
Trong văn chương cũ, “dáng liễu” và “tơ liễu” dùng để tả vẻ thanh mảnh. Cành liễu non dẻo đến mức ở nhiều nơi người ta dùng để đan giỏ, đan rổ. Theo quan niệm dân gian, gỗ dương liễu thuộc loại mộc mềm, sống nhờ độ dẻo hơn là độ cứng.
Đặc điểm, tính cách người mệnh Dương Liễu Mộc thường được nhắc tới
Từ hình ảnh cây ra lộc trước mọi cây khác, người mệnh Dương Liễu Mộc thường được cho là nhạy với thay đổi quanh mình. Họ nhận ra không khí trong nhà khác đi, hay một người bạn đang buồn, trước khi ai kịp nói ra.
Cây liễu cần mép nước mới xanh tốt. Ứng vào tính cách, người mệnh này hay được mô tả là sống tốt nhất ở nơi hòa thuận, ít va chạm. Một môi trường căng thẳng kéo dài dễ làm họ héo đi như cây liễu trồng chỗ đất khô.
Ở lớp ông bà sinh 1942, 1943, nét này hiện ra ở sự nhường nhịn. Họ khéo giữ hòa khí mỗi lần con cháu tụ họp. Với lớp sinh 2002, 2003, đó là khả năng bắt nhịp nhanh với bạn mới, môi trường học hay chỗ làm mới.
Mặt cần để ý là dễ bị cuốn theo ý người khác. Đan được giỏ là nhờ cành liễu chịu uốn, nhưng uốn mãi thì cái giỏ mang hình của người đan. Trong buổi họp nhóm hay bữa cơm gia đình, họ có thể tập nói ý mình trước rồi mới hỏi ý người khác.
Dương Liễu Mộc khác gì các nạp âm khác cùng hành Mộc
Nhìn từ bờ hồ nơi cây liễu đứng, năm nạp âm Mộc còn lại khác nhau ở độ cứng của gỗ và chỗ cây mọc.
- Tùng Bách Mộc: đây là cặp đối lập rõ nhất. Tùng bách đứng trên núi lạnh, gỗ chắc và giữ lá quanh năm. Liễu ở chỗ ấm, gần nước, lá rụng rồi lại ra lộc theo mùa.
- Đại Lâm Mộc: rừng lớn mọc thành khối dày, ít ai đặt chân vào. Liễu thường chỉ đứng thành một hàng thưa, ngay lối đi dạo, gần với sinh hoạt của người.
- Tang Đố Mộc: dâu và liễu cùng ưa đất ven nước. Khác ở chỗ cây dâu được trồng để hái lá nuôi tằm, còn liễu chủ yếu được trồng làm cảnh.
- Bình Địa Mộc: cây đồng bằng đứng giữa ruộng vườn, chịu được nắng gió quang đãng. Liễu cần độ ẩm, rời xa mép nước thì khó xanh như cũ.
- Thạch Lựu Mộc: cây lựu bám chỗ đất cằn, chịu hạn giỏi và ra hoa đỏ rực. Liễu gần như không có hoa đáng kể, vẻ đẹp nằm ở màu lá và dáng cành.
Cả sáu nạp âm đều thuộc hành Mộc, nên bảng màu, con số và mệnh hợp khắc là như nhau. Phần riêng của Dương Liễu Mộc là sự gắn bó với nước.
Một bể cá nhỏ đặt cạnh chậu trầu bà lá rủ gợi đúng hình ảnh liễu soi bóng nước. Với phòng của ông bà, một bức tranh hồ sen hay hàng liễu ven đê treo đầu giường là lựa chọn nhẹ nhàng, dễ tìm.
