Ý nghĩa tên gọi Đại Lâm Mộc
Mệnh Đại Lâm Mộc là một trong sáu nạp âm của hành Mộc, nghĩa là gỗ rừng lớn. “Đại” là lớn, “lâm” là rừng, “mộc” là cây gỗ. Nạp âm này ứng với hai năm Mậu Thìn và Kỷ Tỵ.
Năm nạp âm Mộc còn lại đều gọi tên một loài cây hoặc một chỗ cây mọc. Riêng Đại Lâm Mộc nói về cả một quần thể. Đơn vị để hình dung ở đây là cánh rừng, chứ chưa phải một thân cây.
Một khu rừng già có nhiều tầng. Trên cùng là tán cổ thụ hứng nắng, bên dưới là cây bụi, dương xỉ và rêu bám gốc. Tầng trên che nắng gắt cho tầng dưới, còn lớp lá mục dưới đất lại nuôi rễ của tầng trên.
Rừng đầu nguồn còn giữ nước. Mưa rơi xuống được lá và rễ giữ lại, rồi thấm dần ra suối trong nhiều ngày. Theo quan niệm dân gian, đây là hình ảnh của một sức sống tự nuôi nhau, kéo dài qua nhiều mùa.
Hai can Mậu, Kỷ và chi Thìn đều thuộc hành Thổ. Chi tiết này dễ nhớ khi đặt cạnh tên gọi: muốn thành rừng lớn, cây phải có lớp đất dày để bám rễ.
Đặc điểm, tính cách người mệnh Đại Lâm Mộc thường được nhắc tới
Người mệnh Đại Lâm Mộc thường được cho là mang khí chất của một tập thể hơn là của một cá nhân đứng riêng. Họ làm việc hăng hái khi có đội, có nhóm bạn, có vòng quen biết rộng quanh mình.
Trong rừng, hiếm có cây nào sống khỏe mà không dựa vào cây bên cạnh. Ứng vào tính cách, người mệnh này hay được mô tả là biết nhờ người khác và sẵn lòng để người khác nhờ mình. Trong nhóm bạn cũ, họ thường là người giữ liên lạc, nhớ ngày giỗ, ngày cưới, rủ mọi người về họp lớp.
Cách rừng giữ nước rồi nhả ra từ từ gợi đến kiểu người tích lũy chậm. Họ góp nhặt kinh nghiệm, mối quan hệ và tay nghề qua nhiều năm, ít khi đổi hướng vội vàng. Kết quả thường đến muộn hơn bạn bè cùng lứa nhưng ít bị đứt quãng.
Mặt trái của rừng là rậm rạp. Người mệnh Đại Lâm Mộc đôi khi ôm quá nhiều việc, nhận lời quá nhiều người, đến mức chính mình hết chỗ thở. Gạch bớt hai ba việc trong danh sách tuần này giống như phát quang một lối đi giữa rừng.
Năm 1988 là tuổi con rồng, năm 1989 là tuổi con rắn. Hai con giáp khác nhau, nên nét tính cách theo tuổi cũng khác và được viết riêng ở trang của từng năm sinh.
Đại Lâm Mộc khác gì các nạp âm khác cùng hành Mộc
Đặt cánh rừng cạnh năm nạp âm Mộc kia, điểm khác rõ nhất là quy mô. Mỗi nạp âm còn lại tả một loài cây hoặc cây trên một vùng đất. Đại Lâm Mộc tả cả một hệ cây sống chung.
- So với Tùng Bách Mộc: cây tùng bách đứng một mình trên sườn núi, nổi bật nhờ thân cứng qua mùa đông. Sức của rừng lại nằm ở số đông, từng cây có thể bình thường nhưng cả khu thì khó lay.
- So với Dương Liễu Mộc: hàng liễu ven hồ được trồng để ngắm, cành rủ mềm mại. Rừng lớn hoang dã hơn, không ai tỉa cành, tự lớn theo mưa nắng.
- So với Bình Địa Mộc: cây đồng bằng thường mọc gần làng xóm, do người trồng và chăm. Cây non trong rừng mọc lên từ hạt rơi của cây già, không cần bàn tay ai.
- So với Tang Đố Mộc: cây dâu gắn với một nghề cụ thể là hái lá nuôi tằm. Gỗ rừng ngày xưa gắn với việc dựng nhà, đóng thuyền, làm cột đình.
- So với Thạch Lựu Mộc: cây lựu nhỏ, hoa đỏ, quả nhiều hạt, hay được trồng trước sân. Rừng lớn ít có hoa nổi bật, cái người ta nhớ là bóng mát và màu xanh phủ kín đồi.
Sáu nạp âm này cùng hành Mộc nên dùng chung bảng màu, con số và quan hệ sinh khắc. Chỗ khác nhau chỉ nằm ở hình ảnh và cách người xưa ví von.
Đồ trang trí gợi đúng nạp âm này là thứ có nhiều lớp cây. Một bức ảnh rừng nhiều tầng lá hay một chậu cây ghép vài loài hợp hơn một chậu bonsai đứng lẻ. Ở góc phòng khách, ba bốn chậu cây cao thấp khác nhau đặt sát nhau cũng tạo được cảm giác một khoảng rừng nhỏ.
