Vợ chồng Đinh Sửu và Kỷ Mão theo quan niệm dân gian
Với câu hỏi chồng 1997 vợ 1999 có hợp không, bảng chấm cho 2/8 điểm, mức cần cân nhắc thêm. Con số này thấp, nhưng nó chỉ đo bốn tiêu chí theo can chi và cung. Hai mục vẫn có điểm là thiên can và địa chi, mỗi mục 1 điểm.
Anh hơn chị hai tuổi. Năm 2026 anh 29, chị 27, thường là lúc anh đã đi làm được vài năm còn chị mới ổn định công việc. Khoảng cách này đủ để anh có chút kinh nghiệm chia sẻ, mà chưa xa tới mức khác thế hệ.
Can Đinh của anh thuộc Hỏa, can Kỷ của chị thuộc Thổ. Lửa sinh ra đất, nên mục thiên can không có xung khắc. Can Kỷ hay được ví như đất vườn đã cày, mềm và dễ trồng, còn can Đinh là ngọn lửa nhỏ giữ ấm.
Trâu và mèo không thuộc tam hợp, lục hợp hay lục xung, nên địa chi được 1 điểm. Tuổi Mão thường được cho là khéo léo, ưa yên ổn. Tuổi Sửu bền bỉ, ít nói. Một người giữ nhịp, một người giữ hòa khí, nên chuyện cơm nước hằng ngày ít khi thành cãi vã.
Điều hai người nên lưu ý khi sống chung
Hai mục 0 điểm là nạp âm và cung mệnh. Chồng mang Giản Hạ Thủy, nước dưới khe. Vợ mang Thành Đầu Thổ, đất đắp tường thành. Theo quan niệm dân gian, Thổ khắc Thủy vì đất ngăn và hút nước.
Nhưng người xưa đắp thành bằng đất trộn nước, không có nước thì đất không kết lại được. Hình ảnh này gợi một cách sống chung: phần mềm dẻo của anh giúp những dự định chắc chắn của chị thành hình. Khi chị đặt ra kế hoạch tiết kiệm mua nhà, anh có thể là người điều chỉnh từng tháng cho vừa sức.
Cung mệnh khác nhóm là chuyện của hướng nhà. Anh cung Chấn thuộc Đông tứ mệnh, chị cung Cấn thuộc Tây tứ mệnh. Bốn hướng tốt của anh và bốn hướng tốt của chị không trùng hướng nào. Chuyện này chỉ thật sự cần tính khi hai người bắt đầu thuê hoặc mua chỗ ở chung.
Điểm 2/8 không phải lời phán cho cả một cuộc hôn nhân. Cặp đang yêu có thể dùng nó như một gợi ý để nói chuyện thẳng thắn hơn về cách quyết định chung. Ai giữ tiền, ai chọn nhà, ai lo việc hai bên nội ngoại, nói rõ từ đầu thì sau này ít vướng.
Gợi ý về nhà ở và màu sắc cho gia đình
Vì không có hướng chung, mỗi người giữ bộ hướng riêng của mình:
- Chồng, cung Chấn: Sinh khí Nam, Thiên y Bắc, Diên niên Đông Nam, Phục vị Đông.
- Vợ, cung Cấn: Sinh khí Tây Nam, Thiên y Tây Bắc, Diên niên Tây, Phục vị Đông Bắc.
Cửa chính thường chọn theo người đứng tên chủ nhà. Nếu căn hộ đứng tên anh và cửa nhìn về Nam, chị vẫn dùng được hướng của mình ở những chỗ nhỏ hơn. Ví dụ bàn làm việc quay về Tây Nam, hoặc đầu giường phía chị kê về Tây Bắc nếu phòng cho phép.
Anh mệnh Thủy: hợp nhất là trắng, xám, bạc, ghi; bản mệnh là đen, xanh dương; nên hạn chế vàng, nâu đất, be. Chị mệnh Thổ: hợp nhất là đỏ, hồng, tím, cam; bản mệnh là vàng, nâu đất, be; nên dùng ít xanh lá.
Khi chọn đồ chung như sofa, rèm phòng khách hay bộ bát đĩa, màu thuộc Kim là lựa chọn dung hòa. Đất sinh kim loại, kim loại sinh nước, nên trắng và ghi đứng giữa được cả hai. Bộ bát đĩa sứ trắng viền bạc, rèm ghi nhạt và một tấm thảm cam đất ở góc của chị là đủ.
