Ý nghĩa tên gọi Thiên Hà Thủy
Thiên Hà Thủy nghĩa là nước trên trời, nạp âm hành Thủy của hai tuổi Bính Ngọ và Đinh Mùi. Ai tìm hiểu mệnh Thiên Hà Thủy là gì sẽ thấy một điểm lạ. Đây là dòng nước duy nhất trong hành Thủy không chảy trên mặt đất.
“Thiên hà” dịch sát là sông trời. Người Việt gọi dải sao mờ vắt ngang bầu trời đêm hè là sông Ngân. Truyện Ngưu Lang Chức Nữ kể rằng hai người bị con sông ấy chia cắt, mỗi năm chỉ gặp nhau vào tháng Bảy âm lịch. Những cơn mưa ngâu dai dẳng tháng đó được xem là nước mắt của họ.
Vì thế, nạp âm này hay được hình dung là mưa, sương và hơi nước trên cao. Nước ở đây chưa có hình dạng cố định. Nó còn ở trong mây, chờ đủ nặng mới rơi xuống.
Can Bính, Đinh thuộc Hỏa, chi Ngọ cũng thuộc Hỏa. Nước trên trời đặt trên nền lửa gợi tới đám mây giông giữa trưa hè oi nồng. Trời càng nóng, hơi nước bốc lên càng nhiều, rồi đổ xuống thành trận mưa rào buổi chiều.
Theo quan niệm dân gian, mưa là thứ nước “cho đi” rõ nhất. Mưa không chọn rơi xuống ruộng nhà giàu hay nhà nghèo. Nó tưới đều cả cánh đồng, mái ngói và vườn rau sau nhà.
Đặc điểm, tính cách thường được nhắc tới
Từ hình ảnh cơn mưa tưới đều, người mệnh Thiên Hà Thủy thường được cho là rộng rãi và ít tính toán thiệt hơn. Họ giúp người khác mà không đợi được nhắc. Trong họ hàng, họ hay là người đứng ra lo đám giỗ hay góp tiền sửa nhà thờ họ.
Nước trên trời nhìn được cả một vùng đất bên dưới. Người mang nạp âm này hay được mô tả là có tầm nhìn bao quát, thích nắm toàn cảnh trước khi đi vào chi tiết. Họ dễ nhận ra một việc sẽ đi về đâu khi người khác còn đang tranh luận bước đầu.
Mưa cũng có lúc thất thường. Đang nắng có thể đổ mưa rào, rồi lại tạnh ngay. Người Thiên Hà Thủy đôi khi đổi ý nhanh, làm người quanh mình khó theo kịp. Nói trước kế hoạch với vợ chồng, con cái giúp cả nhà đỡ bất ngờ.
Người sinh 1966, 1967 nay ở tuổi sáu mươi, nhiều người đã có cháu nội, cháu ngoại. Theo quan niệm dân gian, đây là lúc hình ảnh mưa thuận nói đúng nhất về họ. Thứ họ cho đi bây giờ là thời gian, là bữa cơm cuối tuần cho con cháu tụ về.
Thiên Hà Thủy khác gì các nạp âm khác cùng hành Thủy
Năm nạp âm Thủy còn lại đều nằm dưới đất, trong khe, trong giếng, trên sông hay ngoài biển. Thiên Hà Thủy đứng riêng một chỗ, ở phía trên tất cả.
Với Giản Hạ Thủy và Đại Khê Thủy, mưa là thứ làm khe suối có nước. Mùa khô không mưa, khe cạn, suối nhỏ lại. Nhìn từ phía Thiên Hà, các dòng nước trên núi là nơi nhận lấy phần nó trao.
Tuyền Trung Thủy cũng vậy, chỉ chậm hơn. Mưa thấm xuống đất nhiều tháng mới tới mạch ngầm và dâng lên trong giếng. Thiên Hà cho đi, giếng giữ lại.
Trường Lưu Thủy và Đại Hải Thủy là hai chặng cuối của vòng nước. Sông dẫn nước ra biển, biển bốc hơi thành mây, mây lại thành mưa. Thiên Hà Thủy vì vậy vừa là điểm đầu vừa là điểm cuối của vòng tuần hoàn ấy.
Trong sáu nạp âm, chỉ Thiên Hà Thủy gắn với bầu trời. Người xưa nhìn trời đoán mưa để gieo mạ, nên nạp âm này cũng mang theo ý trông đợi đúng thời đúng lúc.
